.


Đạo Cao Đài là một tôn giáo vừa độc thần vừa đa thần (?) thành lập ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. Tên gọi “Cao Đài” theo nghĩa đen chỉ “một nơi cao,” nghĩa bóng là nơi cao nhất ở đó Thượng đế ngự trị; cũng là danh xưng rút gọn của Thượng đế trong tôn giáo Cao Đài, vốn có danh xưng đầy đủ là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.”
Để tỏ lòng tôn kính, một số các tín đồ Cao Đài thường gọi tôn giáo của mình là đạo Thầy.
Người phát sinh ra Đạo Cao Đài là ông Ngô Văn Chiêu (còn gọi là Quận Chiêu, từng làm quận trưởng ở Phú quốc). Ông con nhà nghèo khó sinh năm 1878 tại Bình Tây, Chợ Lớn. Ông rất ưa đồng bóng và cầu cơ. Sau khi chiêu tập các đồng chí, ngày 7 tháng 10 năm 1926 nhóm của ông đã xin Thống Đốc Nam Kỳ cho hành đạo. Cũng năm đó, lễ ra mắt tôn giáo, có Lê Văn Trung được phong làm giáo tông, Phạm Công Tắc là Hộ pháp. Giáo tông và Hộ pháp đều có nhiều phụ tá giúp đỡ. Tòa thánh Cao Đài giáo đặt tại Tây Ninh trên 1 diện tích rộng hơn 100 mẫu. (Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử tr. 165).
Thiên Chúa giáo còn gọi là Công giáo do Đức Giêsu Kitô (Jesus Christ) là Giáo Chủ. Tuy du nhập vào Việt Nam mới hơn 300 năm; nhưng phải khách quan mà nói Thiên Chúa giáo là một tôn giáo có tổ chức quy củ và khoa học nhất.
Đức Giêsu Kitô khai sáng Thiên Chúa giáo tại nước Do Thái (Israsel) cách nay khoảng 2000 năm. Thiên Chúa giáo còn được gọi là đạo Kitô Giáo hay đạo Kitô (do chữ “Christ” phiên âm ra là “Kitô”).
Thiên Chúa giáo tin thờ Đức Chúa Trời duy nhất; Đấng làm vua cõi trời, Đấng quyền phép và nhân từ, Đấng được tin là toàn năng đã làm nên mọi sự.
Thiên Chúa giáo tin vào Kinh thánh (Cựu và Tân ước), dưới sự hướng dẫn của Giáo hội Công giáo La mã, đứng đầu là Đức Giáo hoàng. Cộng tác với Đức Giáo hoàng là hàng giáo phẩm (Hồng y, Giám mục, Linh mục, Phó tế).
Thánh Kinh (Cựu và Tân ước) là những sách được viết bởi người trần, nhưng qua sự linh ứng của Thiên Chúa. Tín điều căn bản hàng đầu là chỉ có một Thiên Chúa duy nhất làm chủ toàn thể vũ trụ; và theo Thánh Kinh, Ngài diễn tả mình là Đấng Tự Hữu (Ego sum qui sum).
Lão giáo một trong Tam giáo đầu tiên du nhập vào Việt Nam qua các quan cai trị người Trung hoa trong thời kỳ Bắc thuộc, bị đô hộ.
Người sáng lập Lão giáo là Lão Tử. Lão Tử chỉ là danh hiệu. Tục truyền khi Lão Tử khi mới sinh đầu đã bạc cho nên có hiệu là Lão Tử. Theo Phan Kế Bính, Lão Tử, còn gọi là Thái Thượng Lão quân, tên thật là Lý Nhĩ tự là Bá Dương hiệu là Lão Đam người nước Sở, sinh năm 570 Trước Công Nguyên – TrCN – (năm thứ 3 đời vua Định Vương nhà Đông Chu – hơn Khổng Tử chừng 20 tuổi). Cũng có sách lại ghi là Lão Tử sinh vào năm thứ 10 đời vua U Vương nhà Tây Chu (thế kỷ thứ 8 trước công nguyên). Năm sinh và năm mất của Lão Tử vẫn còn được tranh cãi.
Lão Tử soạn ra “Đạo Đức Kinh” gồm năm ngàn câu, chú ý theo sự tu thân tích đức theo tự nhiên thanh tĩnh để được siêu thoát. Đạo là nguyên lý vô hình vố sắc, đã sinh ra âm dương trời đất muôn vật muôn loài theo luật tuần hoàn mà biến cải tự nhiên; Nghĩa là muôn việc cứ để cho biến hóa tự nhiên (không cần phải làm gì thêm). Con người muốn được tiêu diêu thanh thản thì không cần phải lo lắng, nghĩ ngợi. Có nhiều người nói là Lão Tử là một triết gia hơn là một giáo chủ; và tôn chỉ của Lão Tử chỉ là một học thuyết, không phải là giáo điều.
Nếu nói là chỉ có một “đạo thuần túy” Việt Nam, và lâu đời nhất thì phải kể “Đạo Thờ Thần”. Đạo này đã có từ lúc có người Việt Nam.
(Ảnh bên: Bà chúa Liễu Hạnh trong tranh thờ dân gian).
Người Việt nguyên thủy tin tưởng là có thần linh ở khắp mọi nơi: trong nhà, ngoài sân, ngoài vườn, bờ ruộng, trên ngọn cây, gốc cây, dưới lòng sông… Người Việt thờ phụng và tin tưởng tất cả các sức mạnh này. Đạo thờ Thần (cũng như thờ cúng tổ tiên) đáng lẽ ra không nên liệt kê là một tôn giáo. Bởi lẽ không có giáo chủ, cũng như không có giáo điều (thật ra đạo thờ thần có nhiều giáo chủ: mỗi vị thần là một giáo chủ?) Có nhiều sự tương tự, tượng hợp giữa đạo thờ thần và đạo thờ cúng tổ tiên. Chẳng hạn, chính Ông bà Tổ Tiên được kính bái như những vị thần che chở cho con cháu, gia tộc. Về Nghi thức, cũng có nhiều điểm giống nhau: Khi cúng một vị thần trong nhà thì gia trưởng là chủ lễ, tại làng xã thì có các vị hương xã; hoặc trong nước thì có vua hay quan thay mặt vua tế lễ; không cần đến một vị tu sĩ tôn giáo.
(Nguon: http://www.dharmasite.net)
Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng tại Viện Dịch Kinh Quốc Tế, ngày 06 tháng 02 năm 1994.
Nho giáo thì giảng về “trung thứ”; Ðạo giáo lại giảng về “cảm ứng,” và Ðạo tuy nói là “thanh tịnh, vô vi,” song cần phải tu đạo tự nhiên. Trong Ðạo Ðức Kinh có chép: “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên”; nhưng trên thực tế, giáo nghĩa của nó nằm trong hai chữ “cảm ứng.” Phật giáo thì giảng về “từ bi.” Nho giáo, Ðạo giáo, Phật giáo – ba giáo pháp này đều không rời khỏi cái “tâm,” nếu rời “tâm” thì sẽ không có giáo pháp nào cả.