Đà Nẵng được xem như “Yết hầu của vùng Thuận Quảng”. Quảng Nam với ý nghĩa rộng là vùng đất mở rộng về phương Nam, cùng với sự kiện năm 1471 vua Lê Thánh Tông lập Quảng Nam Thừa tuyên đạo gồm 3 phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn. Cư dân đầu tiên ở đây là cư dân Sa Huỳnh…
PHẦN 01: ĐỊA PHƯƠNG NÀO, MÓN ĂN NẤY

Bài cùng chuyên đề:
Mời các bạn xem thử những bưu thiếp dưới đây của nhiếp ảnh gia nổi tiếng người Pháp Pierre Dieulefils (1862-1937). Đây là những tấm ảnh thuộc bộ sưu tập ảnh về Hà Nội xưa cùng với những tác phẩm khác đã được trưng bày tại Hà Nội trong thời gian qua.

1949 – xứ “Mọi” – săn nai
Bài cùng chuyên đề:
Nghề đồng nát, nghề bán hàng rong, xe tơ, dệt lụa… đã có 100-200 năm tuổi. Trong khi đó nhiều nghề như nghề kéo xe tay, bán than củi… nay không còn nữa.
Bài cùng chuyên đề:
Thuận Hóa – Phú Xuân – Huế có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển khoảng gần 7 thế kỷ (tính từ năm 1306). Trong khoảng thời gian khá dài ấy Huế đã tích hợp được những giá trị vật chất và tinh thần quý báu để tạo nên một truyền thống văn hóa Huế. Truyền thống ấy vừa mang tính đặc thù – bản địa của một vùng đất, không tách rời những đặc điểm chung của truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam; trong tiến trình hình thành văn hóa Huế có sự tác động của văn hóa Đông Sơn do các lớp cư dân từ phía Bắc mang vào trước thế kỷ 2 và sau thế kỷ 13 hỗn dung với thành phần văn hóa Sa Huỳnh tạo nên nền văn hóa Việt – Chăm. Trong quá trình phát triển, chuyển biến có ảnh hưởng của các luồng văn hóa khác các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây…
Dưới đây là bộ sưu tập những hình ảnh tư liệu về Huế xưa…

Không chỉ riêng dân Phan Long, dân gốc của Thị trấn Ba Đồn, hãnh diện về cái đình to đẹp nhất nước (nhiều người bảo to đẹp nhất Đông Nam Á), mà dân tứ xứ về đây cưới vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái cũng rất hãnh diện.
Dân làng nào cũng cố tìm được cái gì đó của làng để mà tự hào. Dân Ba Đồn cũng vậy. Xưa thì tự hào có cái chợ to nhất miền Trung. Thời kháng Pháp thì tự hào có anh hùng liệt sĩ Nguyễn Tiến Nhẫn, chiến sĩ tình báo tí hon thông minh quả cảm, bị địch bắt lúc ông mới 15 tuổi, Pháp đem ra đình chợ bắn vẫn không một chút sợ hãi, vẫn ngẩng cao đầu hô to bốn tiếng “Việt Nam muôn năm!”. Kịp đến thời chống Mỹ, Thị trấn Ba Đồn chẳng bắn được chiếc máy bay nào lại bị bom Mỹ san phẳng, dân Ba Đồn vẫn tìm được niềm tự hào, ấy là anh cu Kỷ, người đầu tiên tỉnh Quảng Bình bắt được phi công Mỹ. Bây giờ dân Ba Đồn có gì để tự hào nhỉ? A cái đình làng… Đọc tiếp »

Vào thời Lý Huệ Tông (1), có người tên Tử Hư ở xã Nghĩa Lư, huyện Cẩm Giàng, gia đình bần hàn, dời nhà sang sinh sống ở làng Hoa Phong. Lúc nhỏ mồ côi, theo thầy là Dương Trạm (tự là Công Trực), Tử Hư rất ham học, thông minh, hiếu kính và vâng lời dạy bảo của thầy.
Khi Công Trực mất, con còn nhỏ dại, không có tiền để làm đám tang. Tử Hư về nói với mẹ rằng: “Nhà thầy nghèo, con cái còn bé. Nhà ta còn được mấy mẫu ruộng?”. Mẹ nói: “Nhà ta để lại cho con tất cả 6 sào ruộng”. Tử Hư vừa khóc vừa xin với mẹ rằng: “Xin mẹ đem bán đi 2 sào, lấy tiền giúp đỡ nhà thầy”. Bà mẹ cũng khóc theo, rồi đem bán 2 sào ruộng được tất cả 30 quan tiền. Tử Hư liền đem đến giúp đỡ việc tang ma. Lại cho dựng lều bên mộ thầy, ngày đêm hương đèn cúng vái xong đến 3 năm mới trở về nhà. Đọc tiếp »
Sư bà ở Thanh Lương họ Phạm, một gia tộc ở đất Giao Chỉ. Bà xuất gia tu hành ở đất Thanh Lương, giả trang để tu khổ hạnh, tu hành tinh tấn cần mẫn, thông suốt đạo mầu.
Bà thường hay thiền định, có đạo cốt trông giống như các vị La Hán, nên có nhiều thiện nam tín nữ xa gần đều ngưỡng mộ, tôn bà lên bậc tôn sư ngang hàng với các vị cao tăng đức hạnh. Năm Hồng Vũ (1), vào đời vua Trần Nghệ Tông bà được sắc phong làm Huệ Thông Đại Sư, sống ở núi Vọng Đông.
Một ngày kia, bà bỗng nhiên nói với đệ tử rằng: “Ta muốn lấy thân xác ta cho cọp, beo”. Rồi một buổi chiều, bà lên núi ngồi thiền trên một tảng đá, tuyệt thực nhiều ngày. Cọp beo ngày ngày vây quanh, nhưng đều không dám động đến bà. Sau đó, các đệ tử khẩn cầu bà trở về am tu, thuyết pháp cho mọi người nghe. Xong, bà viên tịch, hưởng thọ được hơn 80 tuổi. Sau lễ Trà tì, có nhiều Xá lợi để lại, được quan sở tại dựng chùa cất giữ, thờ phụng. Đọc tiếp »
Người đời truyền nhau rằng Thần chính là tinh của thần Viêm Quân.
Xưa, ở làng Kiêu Hãn, huyện Hồng Lộ, có hai anh em họ Đặng, một người tên Thứ, một người tên Xạ. Cả hai đều làm nghề đánh cá. Một hôm, trông thấy một vật lạ, hình dạng như khúc gỗ, dài độ ba thước, màu sắc như trứng chim, theo thủy triều dạt tới. Họ nhặt lấy đem về. Đêm đến, bỗng nhiên nghe trong khúc gỗ có tiếng nói như hai người đang trò chuyện với nhau, hai người hoảng sợ, lại đem vứt xuống dòng sông rồi dời thuyền đến bãi khác để nghỉ.
Sau, hai người mơ thấy có người đến nói: “Tôi vốn phi tần của Đông Hải Long vương. Trước kia, vì giao hoan với Viêm Quy, sợ Đông Hải Vương biết được, cho nên gửi cho các ông trông giữ, chớ để vật khác chạm phải. Sau này, nó trưởng thành nhất định sẽ ban phước cho, đừng có lo gì khác”. Đọc tiếp »
Theo truyện Giao Châu ký của Triệu Công thì thần hiệu là Thổ Lệnh.
Năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, Lý Thường Minh khi mới đến nhiệm sở làm Đô đốc Phong Châu, thấy sông núi nơi đây kỳ vĩ, liền cho dựng đền có ba bức tượng để thờ. Trước đền định chạm đúc tượng thần hộ pháp. Vì chưa biết linh ứng thế nào, nên thắp hương khấn rằng: “Các vị thần ở đây, nếu hiển linh, xin mau hiện hình để khắc làm tượng”.
(Ảnh bên: Đền Tây Tựu, huyện Từ Liêm, Hà Nội) Đọc tiếp »