



Trải qua lịch sử hình thành lâu dài, cảnh quan làng xã truyền thống đã hình thành những tổ hợp quen thuộc, có sự cô đọng trong phối kết các nhân tố, trở thành hình ảnh biểu trưng của làng xã. Chính vì vậy dù mỗi làng có những sự khác biệt nhưng những hình ảnh biểu trưng đã trở thành đại diện mang ý nghĩa ký hiệu học cho sự nhận biết, sự hồi tưởng hay ký ức về làng quê nói chung.
1. TỔ HỢP: MÁI ĐÌNH – CÂY ĐA – AO LÀNG
Đây là tổ hợp mang tính biểu trưng mạnh nhất của làng quê truyền thống. Với mái đình thấp, uốn cong, có sân đình với hai bên là cây Đa, phía trước là ao làng đã trở thành một tổ hợp có tính công thức đạt hiệu quả thẩm mỹ cao. Hình ảnh này được lặp lại ở khá nhiều làng, chính vì vậy nó càng có tính khái quát và tính đại diện. Đọc tiếp »
“Hôm qua tát nước đầu đình
Để quên chiếc áo trên cành hoa sen…”
- Ca dao VN
Xưa nay, đình làng là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của mọi người dân Việt, là nơi chứng kiến mọi sinh hoạt, lề thói và mọi đổi thay trong đời sống xã hội của làng quê Việt Nam qua bao thế kỷ. Kiến trúc đình làng vì vậy mang đậm dấu ấn văn hóa, độc đáo và tiêu biểu cho kiến trúc điêu khắc Việt truyền thống.
Xem thêm:
(Nguồn: Tổng hợp)
Từ tâm thức đến cách thức bài trí nhà cửa, người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng luôn đặt nơi thờ cúng tại vị trí trang trọng nhất.
Trong nhà ở dân gian, bàn thờ cố định tại Trung Cung (khu vực trung tâm của nhà). Bước vào cửa chính có thể gặp bàn thờ và bộ bàn ghế tiếp khách, là một xếp đặt quen thuộc, hài hòa với cấu trúc không gian nhà ở truyền thống vốn có hàng hiên và sân vườn bao bọc chung quanh.
Xem thêm:

Cho tôi hỏi ý nghĩa hình tượng các con vật trên kiến trúc đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo ở Việt Nam là gì ?
1. Hình tượng Rồng:
Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lịch sử lâu đời. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật, vì nó không tồn tại trong thế giới tự nhiên mà là sự sáng tạo nghệ thuật siêu tự nhiên.
(Nguồn: tổng hợp)
Qua hàng nghìn năm lịch sử, với sự phát triển từ thấp đến cao, người Việt Nam đã sống qua những hình thức như bầy đàn, công xã, rồi đến thị tộc… nhưng cao hơn cả mà vẫn còn tồn tại, duy trì cho đến ngày nay là những đơn vị nhỏ được gọi là ‘làng’…
Làng là đơn vị thấp nhất trong cấp chính quyền của những cộng đồng người định cư làm nông nghiệp. Làng Việt Nam lại được lập lên từ tập hợp các gia đình, nhiều có tới vài nghìn hộ, ít cũng phải trên mấy chục hộ gia đình và mỗi gia đình lại sống độc lập trong mỗi khuôn viên riêng.
(Nguồn: Tạp chí Thế Giới Mới)
Dân gian Việt Nam rất coi trọng phong thủy nơi ở. Câu ngạn ngữ ”Thứ nhất dương cơ (nơi ở), thứ nhì mồ mả” như là lời giáo huấn cho các thế hệ tiếp theo khi chọn nơi ở, khi làm nhà, mặc dù không có bất kỳ hình thức đào tạo nào, nhưng hầu hết mọi người dân xứ Việt đều có kiến thức phong thủy trong xây dựng nhà ở. Đó là những kinh nghiệm truyền đời với tính cách là bộ phận của văn hóa dân gian Việt Nam. Nhà ở đặc trưng trong dân gian Việt Nam là nhà của người Mường và nhà của người Kinh.
(Nguon: Tạp chí Kiến trúc Việt Nam)
Không gian sống của người xưa là không gian tâm linh: Trong nhà có bàn thờ, quanh năm cúng giỗ ông bà cha mẹ… các bậc tiền bối vẫn hiện hữu trong đời sống gia đình, sáng chiều có tiếng chuông báo thức, báo ngủ, quanh năm có tế lễ, việc họ, việc làng, lễ hội… Con người hằng ngày không có cảm giác thiếu sinh hoạt tâm linh.
Xem thêm:
Phương đình Đền Đô ở Bắc Ninh
Thức kiến trúc cổ Việt Nam là một trật tự (order) hoặc là những quy định thống nhất về kích thước, các tương quan tỷ lệ giữa các chi tiết, thành phần kiến trúc trong một công trình kiến trúc theo phong cách cổ điển của Việt Nam với những quy tắc riêng biệt và điển hình đã được người Việt sử dụng trong lịch sử Việt Nam. Nó được đánh giá là thể hiện tài hoa, tri thức và truyền thống trong kiến trúc cổ Việt Nam.
Kiến trúc Việt Nam có thể chia ra làm các giai đoạn nổi bật sau đây:
+ Kiến trúc cổ Việt Nam
+ Kiến trúc thuộc địa
+ Kiến trúc mới
+ Kiến trúc đương đại