TNDGNV [03-04-05]: Đạo Lão – Đạo Khổng – Đạo Phật

3. Đạo Lão

Lão Tử cưỡi trâuLão giáo một trong Tam giáo đầu tiên du nhập vào Việt Nam qua các quan cai trị người Trung hoa trong thời kỳ Bắc thuộc, bị đô hộ.

Người sáng lập Lão giáo là Lão Tử. Lão Tử chỉ là danh hiệu. Tục truyền khi Lão Tử khi mới sinh đầu đã bạc cho nên có hiệu là Lão Tử. Theo Phan Kế Bính, Lão Tử, còn gọi là Thái Thượng Lão quân, tên thật là Lý Nhĩ tự là Bá Dương hiệu là Lão Đam người nước Sở, sinh năm 570 Trước Công Nguyên – TrCN – (năm thứ 3 đời vua Định Vương nhà Đông Chu – hơn Khổng Tử chừng 20 tuổi). Cũng có sách lại ghi là Lão Tử sinh vào năm thứ 10 đời vua U Vương nhà Tây Chu (thế kỷ thứ 8 trước công nguyên). Năm sinh và năm mất của Lão Tử vẫn còn được tranh cãi.

Lão Tử soạn ra “Đạo Đức Kinh” gồm năm ngàn câu, chú ý theo sự tu thân tích đức theo tự nhiên thanh tĩnh để được siêu thoát.  Đạo là nguyên lý vô hình vố sắc, đã sinh ra âm dương trời đất muôn vật muôn loài theo luật tuần hoàn mà biến cải tự nhiên; Nghĩa là muôn việc cứ để cho biến hóa tự nhiên (không cần phải làm gì thêm).  Con người muốn được tiêu diêu thanh thản thì không cần phải lo lắng, nghĩ ngợi.  Có nhiều người nói là Lão Tử là một triết gia hơn là một giáo chủ; và tôn chỉ của Lão Tử chỉ là một học thuyết, không phải là giáo điều.

Lão Tử lấy sự “thanh tĩnh, tự nhiên” làm tôn chỉ.  Đây một ý tưởng rất cao; người thường khó mà hiểu thấu đáo được:  Về tình người và tình đời, cứ lấy cái “thanh tịnh vô vi” đối với cuộc đời.  Không để một chút tơ vương gì của cuộc đời xâm phạm vào cái thú ung dung, nhàn nhã, khoan thai của mình. Việc đời xảy đến đâu đối phó đến đó, không cần phải hao tổn thể lực và tinh thần.  Cứ để tự nhiên thì mọi chuyện sẽ yên ổn, đâu vào đó, thiên hạ sẽ “vô vi an trị” (vô vi mà an thiên hạ).  Sự tiêu cực này bị Nho giáo bác bỏ.  Những người phóng khoáng, ưa thanh tĩnh, biết nhẫn nhục đều hợp với đạo Lão.

Lão giáo bành trướng mạnh ở Việt Nam từ thời Đinh Tiên Hoàng (năm 968-979).  Đến đời Lý Anh Tôn (1138-1175) thì Lão giáo được dùng trong Tam giáo làm đề tài thi cử.  Cái tôn chỉ cao xa khó hiểu của Lão Tử về sau này bị các lưu phái suy diễn một cách vô tình hay cố ý, biến thành thuật số, cách tu luyện đạo phù thủy, với những điều dị đoan.  Hạng thượng lưu đạo Lão chỉ thích an nhàn; hạng bình dân hạ lưu thích truyện thần tiên huyền ảo, bày những chuyện cấm kỵ, may rủi…  Quan niệm yếm thế “Thiên địa bát nhân,” “Thanh tĩnh vô vi” chỉ hợp với một xã hội lý tưởng, nhỏ thời bấy giờ; không còn hợp với xã hội lớn, chính trị phức tạp tân tiến ngày nay (chú trọng vào phát triển kinh tế, sản xuất cao; kỹ thuật khoa học kỳ xảo; quân đội mạnh; vũ khí tinh xảo…)

Đạo Thờ Thần - Đạo Lão

Tóm lại, không có gì ngạc nhiên là ngày nay ảnh hưởng của Lão giáo đã giảm bớt rất nhiều. Chính đạo phái môn đồ chỉ còn lác đác một số phù thủy, đạo sĩ theo các thể thức bùa phép, ấn quyết, trừ ma trừ quỷ… làm nghề sinh sống trong tầng lớp hạ lưu xã hội chứ kỳ thực chẳng hiểu biết tôn chỉ đạo giáo là gì!  Nước ta thực ra không rõ có rệt có một môn phái đạo Lão hay không?  Một số người dân Việt vẫn còn tin vào việc cúng bái biến thể của Lão giáo với các nghi thức vay mượn của đạo thờ Thầnđạo thờ cúng Tổ tiên của các thầy cúng, pháp sư, phù thủy, đồng cô bóng cậu, bùa ngãi…  những cái tín mê tín dị đoan tai hại tiêm nhiễm trong dân gian đã lâu di truyền lại bởi đám đạo Lão hạ lưu không hiểu cái ý nghĩa cao kỳ tiêu diêu của đạo Lão.

Chúng ta không nên vì hạng thầy pháp, phù thủy luyện âm binh, bùa, ếm, tà ma, lên đồng, gọi hồn, xin thẻ, xin quẻ… đã làm hư hại dân trí mà khinh rẻ bôi bác đạo Lão.

.

4. Đạo Khổng (Nho giáo)

Khổng TửNho giáo, còn gọi là Khổng giáo, là một trong Tam giáo được dân Việt du nhập và sùng tín từ thời Bắc thuộc; nghĩa là đã có trên 2 ngàn năm. Người ta gọi Khổng giáo, tức là đạo của đức Khổng Tử. Những người thực hành theo tín điều của Nho giáo được gọi là nhà Nho.

Thực ra, Khổng Tử không phải là người sáng lập ra đạo này (Nho giáo đã có từ thời Phục hi – gần 2900 năm TrCN). Khổng Tử chỉ là người biểu dương và phát huy đạo này.

Khổng Tử tên thật là Không Khâu, tự là Trọng Ni người nước Lỗ, sinh năm 551 TrCN, vào thời vua Linh Vương nhà Chu và Tương Công nước Lỗ. Mất năm 479 TrCN, thọ 73 tuổi. Từ nhỏ Không Tử đã thông minh, học xa, kiến thức rộng, hiểu thấu lẽ huyền hoặc của tạo hóa. Năm 20 tuổi đã bắt đầu giữ một số chức quan nhỏ. Nhưng đường quan lộ của Khổng Tử không thông đạt. Năm 22 tuổi mở trường dạy học.  Mãi đến năm 51 tuổi vua Lỗ mới dùng làm Tư khấu coi việc Hình và một năm sau được vua Lỗ phong làm Nhiếp chính sự.  Nhưng Khổng Tử thấy vua ham mê tửu sắc, nữ nhạc, trễ nãi việc triều đình cho nên xin từ chức, đem học trò đi chu du các nước chư hầu với ý nguyện đem cái sở học của mình để cứu đời.  Tuy vậy Khổng Tử cũng không được các vua chư hầu tin dùng.

Sau đó Khổng Tử trở về nước Lỗ vĩnh viễn và mở trường dạy học. Khổng Tử đã sửa sang lại Kinh Thi, Kinh Thu, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Nhạc và Kinh Xuân Thu (gọi là Lục Kinh).  Kinh Nhạc về sau bị thất lạc, thành ra chỉ còn lại Ngũ kinh :

Kinh Thi : là sưu tập các thơ dân gian có trước thời Khổng Tử.

Kinh Thư : ghi lại các truyền thuyết của các đời vua sống trước thời Khổng Tử.

Kinh Lễ : ghi chép lại các lễ nghi thời trước.

Kinh Dịch : nói về các tư tưởng triết học Trung Hoa cổ dựa trên khái niệm âm dương, bát quái…

Kinh Xuân Thu : ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê nhà của Khổng tử.

Khổng tử dạy 8 điều được xem như tôn chỉ của Nho giáo là :

HIẾU để thờ kính cha mẹ

ĐỂ để hòa thuoận với anh em

TRUNG để hết lòng vơi vua và nước

THỨ để ở với người cho hợp lẽ

TU để tự sửa mình

TỀ để quản trị gia đình

TRỊ để lấy đạo trị nước

BÌNH để an yên thiên hạ

Ngoài 8 điều này, Khổng tử còn dạy “Lục Nghệ” là :

LỄ, phép giữ lễ nghi (phéo giao thiệp)

NHẠC, phép âm nhạc (giải trí)

XẠ, phép bắn cung (cũng là thể thao)

NGỰ, phép cưỡi ngựa (cũng là thể thao)

THƯ, phép viết chữ (văn nghệ)

SỐ, phép tính (toán pháp).

Khổng Tử có trên 3,000 học trò. Trong đó bậc cao hiền chỉ có 72 người (như Nhan hồi, Tăng sâm…).

Khổng Tử mất năm 73 tuổi (năm 479 TrCN, đời Kinh Vương nhà Đông Chu).

Sau khi Khổng Tử mất, các đệ tử có làm các công việc sau đây :

- Tăng tử chép các lời của Khổng Tử thành cuốn Đại học dạy cách sống để làm người quân tử.

- Các học trò ghi chép lời dạy của Khổng Tử thành cuốn Luận ngữ.

- Tử Tư (cháu nội của Khổng Tử) soạn ra sách Trung Dung dạy cách sống dung hòa.

- Và các học trò đời sau của Khổng giáo cũng chép lại các mẩu đối thoại giữa Mạnh Tử và các vua trong thời kỳ Mạnh Tử sống (100 năm sau thời Khổng Tử – Mạnh Tử là học trò của Tử Tư) thành sách Mạnh Tử.

Quan điểm đạo đức chính của Khổng Tử chú trọng đến việc giáo dục con người. Nhờ giáo dục mà con người cải đổi tư cách và nhà giáo dục phải đứng trên mọi giai cấp, phục vụ cách vô vị lợi cho lý tưởng con người.

Căn bản Tam cương: Quân Thần, Phụ Tử, Phu Phụ.

Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Đó là 5 đức mà con người thường phải có trong khi giao dịch với nhau.

Muốn thành nhân con người phải: Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ.

Đường lối xử thế người hành đạo cần theo đúng: Chính danh, Thuận ngôn, Hành thiện.

Phụ nữ phải: Tam tòng (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con); và Tứ đức (Công: biết làm việc, Dung: mặt luôn tươi tỉnh, Ngôn: lời luôn chừng mực khôn ngoan, Hạnh: tư cách luôn đáng trọng).

Những sách vở và tiêu chuẩn đạo đức này được truyền bá rộng rãi để dạy thiên hạ cho nên được gọi chung là Nho giáo.

Khổng giáo vào Việt Nam cùng lúc với sự đô hộ của Tàu, đặc biệt bởi Thái thú Tích Quang và Sĩ Nhiếp (187-226). Khổng giáo bắt đầu thịnh từ thời tiền Lê (Lê Đại Hành, năm 980-1005).  Từ đời Lê, Khổng giáo đã trở thành quốc giáo.

Từ lúc “Nam Bắc phân tranh”, Bắc do vua Lê (mạt Lê), Chúa Trịnh, Nam do nhà Nguyễn cai trị. Nho học đã dần dần đến bước suy đồi. Các cuộc thi cử xưa kia được các vua chú trọng nhưng đến đầu thế kỷ 20 thì bị bãi bỏ hẳn (1915 ở miền Bắc và 1918 ở miền Trung).

Văn miếu

Nho sinhVăn miếu hay là Văn Thánh Miếu là Miếu thờ đức Khổng Tử và các bậc tiên Nho, tiên Hiến. Các tỉnh lớn Việt Nam và Hà Nội đều có Văn Miếu.

Tóm lại, thời thế đã biến đổi theo chiều hướng khác biệt có vẻ tốt đẹp hơn. Đạo nào cũng có lúc thịnh lúc suy. Khổng giáo không phải là ngọai lệ. Ở đầu thế kỷ 20, chúng ta đã nghe thấy các ông cựu học Nho giáo than thở là đạo Nho suy đồi làm cho đất nước sắp đến ngày tàn… Thực tế hôm nay cho thấy không phải như vậy! Ngoài ra còn có các nhận xét chủ quan như sau :

Mặt tích cực của Khổng giáo

Khổng giáo chú trọng đến việc giáo dục con người (riêng đức Khổng Tử còn thấy vui thú trong việc dạy học). Con người sinh ra vốn có tính thiện, nhưng sau này sinh ra gian ác vì chịu ảnh hưởng xấu xa của những kẻ xấu chung quanh. Dùng hình phạt để ngăn chỉ là bất đắc dĩ; nên dùng lễ nhạc để cảm hóa. Công phu giáo hóa sẽ làm thay đổi tư cách con người: dạy con người chú trọng đến chữ “Đức” (Tín và Lễ); mở rộng lòng nhân cứu người (Nhân và Nghĩa); Dạy con người không tham lam chạy theo phú quý; lúc nghèo không thay đổi khí tiết; không bị khuất phục bởi các sức mạnh bắt phải làm sai đạo đức.

Nhờ cái căn bản luân lý của Khổng giáo để đạo đức hóa mọi tầng lớp xã hội qua Tam cương và Ngũ thường, mà dân tộc ta có văn minh, có văn hóa, có văn chương, có chính trị, có học thức để sinh tồn qua bao nhiêu giai đoạn khó khăn của lịch sử; kể cả trên ngàn năm đô hộ của Tàu.  Không có đạo Khổng có lẽ dân tộc Việt Nam ta đã biến mất trên mặt quả đất; hay vẫn còn mọi rợ ăn lông ở lỗ khi người Tây phương đem văn minh Tây phương đến nước ta.

Mặt tiêu cực và giới hạn của Khổng giáo

Quá tin vào thiên mệnh; xem nhẹ sáng kiến, chuyên môn.

Quá đề cao vai trò “Thiên tử, thừa thiên thụ mệnh.”  Tuy có khuyên vua phải theo đúng “đạo làm vua (hành động cho hợp lòng dân)” nhưng không đề cập đến cách kiểm soát vua chúa và quyền hành của họ để ngăn trừ chuyên chế và lạm quyền.

Đề cao người quân tử, kẻ sĩ; nhưng nhiều khi lại mỉa mai, miệt thị hạng thứ dân kém may mắn hơn.

Vai trò của phụ nữ trong xã hội bị xem thường. Số, bốc, bói toán viển vông gây nhiều dị đoan xấu. Triết lý về vũ trụ (âm dương tương đối) và Tam tài (Trời, Đất và Người – Trời Đất là cha mẹ, Người là anh em) cũng có nhiều điều viển vông khó hiểu.

Thủ lễ thì lắm sự câu thúc lỉnh kỉnh làm mất nhiều thời giờ và khó theo. Tính tình chuộng thái độ êm ái, hòa nhã khiến cho dân nhu nhược. Nhu dụng thì chuộng cách tiết kiệm, đơn giản khiến cho công nghệ, kỹ nghệ thô sơ, thiếu tinh xảo không cạnh tranh được với các nước Tây phương.

Như vậy, đạo Nho dùng để tự trị thân thì tốt; nhưng đem ra đối với đời cạnh tranh thì không mạnh. Ngoài ra, nhiều thói hủ bại trong đời sống là do con người tự tạo ra chứ đạo Nho không chủ trương.

.

5. Đạo Phật

Giáo chủ Phật giáo là đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (SaKya Muni) tên là Cổ Đàm (Gautama), tự là Tất Đạt Đa (Shidartha), con vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và Hoàng hậu Ma Da (Maya), nước Ca Tỳ La Vệ (Kapila-Vastu) một tiểu quốc thuộc miền trung Ấn Độ, tức là xứ Pipaova ở phía Bắc thành Ba La Nại (Bénares) ngày nay. (Chữ Mâu Ni chỉ là chữ thêm vào để gọi, ca ngợi sự trong sạch).  Đức Phật sinh vào ngày ngày rằm tháng tư âm lịch 624 năm TrCN.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni - Tượng Phật ngọcTuy là một Thái Tử sống một cuộc đời ấm no, gấm hoa trong cung điện, Đức Phật  vẫn cảm thấy những nỗi vô vị của vật chất. Với trí thông minh, Đức Phật đã tự dấn thân đi tìm hiểu cuộc đời. Qua nhiều lần xuất cung du ngoạn, Đức Phật đã mục kích những cảnh khổ và thảm họa: bệnh tật, chết chóc, già nua, nghèo túng. Ngài cũng nhận thấy lúc bấy giờ xã hội Ấn độ chia ra 4 giai cấp khác nhau từ cao đến thấp: giáo sĩ, quý tộc, giới bình dân, nô lệ. Và có sự bất bình đẳng giai cấp không thể tưởng tượng được trong kiếp người. Đức Phật thấy lòng thương chúng sanh nổi dậy, Ngài quyết định từ bỏ tất cả phú quý để  phát tâm tìm đạo năm 30 tuổi (sách Ấn độ nói 30 tuổi, sách Trung hoa nói 19 tuổi).

Sau 6 năm tu khổ hạnh trong rừng sâu và 49 ngày nhập định dưới cây Bồ đề, Đức Phật đã giác ngộ được đạo quả, xưng danh hiệu là Phật (Buddha, hay Thích Ca Mâu Ni – có nghĩa là “Tự giác”) và bắt đầu lên đường hành đạo, dẫn dắt những người đồng chứng vượt qua khỏi cảnh giới tối tăm đau khổ thế gian, đạt đến quá vị giải thoát và an vui -  nghĩa là kết thúc kiếp luân hồi để đi đến Niết bàn.

Niết bàn (Nirvana) của Phật gíao không phải là chốn thiên đường mà là một trạng thái linh hồn đã thoát khỏi cõi vô minh mê lầm mà vào cõi giác ở đó ý tưởng, cảm xúc, dục vọng không còn nữa.  “Nirvana” là một động từ có nghĩa là “dập tắt (dục vọng) đi.”  Niết bàn không phải là cõi hạnh phúc thiên đường mà hiện hữu ngay ở dưới cõi trần.

Phật đã nói: Tịch diệt ái dục là Niết bàn”, và: “Ta là Phật đã thành; các ngươi là Phật sẽ thành”

Mọi người biết tu hành giác ngộ đều thành Phật. (theo Kim Long, Tríết sử Đông phương)

Sự xuất thế của đức Phật Thích Ca trải qua các giai đoạn thực hành các phương pháp tu tập, giác ngộ chân lý và thuyết pháp giáo hoá chúng sinh trong suốt 49 năm tại thể là một bài học sống động trong lịch sử xã hội loài người. Phật vì một đại sự nhân duyên là “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến” (chỉ bày cho chúng sanh giác ngộ được trí tuệ sáng suốt Phật tánh) mà hiện thân ra cõi đời. Ngài không đến với loài người bằng quyền uy, thế lực mà đến với một tâm đại từ bi, đại hùng lực để dẫn dắt con người tu tập pháp lành và cầu đạt được chân lý, giải thoát mọi sự khổ ở đời.

Chỉ dẫn cho chúng sanh (từ thường dân đến bậc đại nhân) giác ngộ được trí tuệ sáng suốt Phật tánh.

Tám điều giác ngộ

Còn gọi là “Bát Đại Nhân Giác” của bậc Đại nhân – tức chỉ cho hạng Bồ tát – vì phát nguyện rộng lớn vào đời cứu độ chúng sanh, lấy đây làm kim chỉ nam cho việc tu tập hằng ngày :

Tượng Phật Thích Ca- Điều thứ nhất, giác ngộ được cuộc đời là vô thường. Tất cả mọi vật đều bị thay đổi, cho đến các yếu tố cấu tạo nên cơ thể đều không bền chắc và còn có tác dụng gây ra đau khổ nữa.

- Điều thứ hai, giác ngộ rằng càng nhiều ham muốn thì càng nhiều đau khổ, bởi mọi sự cực nhọc ở đời đều do lòng ham muốn mà ra.

- Điều thứ ba, giác ngộ rằng, vì tâm ta đuổi theo danh lợi không nhàm chán, tội lỗi theo đó càng ngày càng tăng lên.

- Điều thứ tư, giác ngộ rằng tính lười biếng đưa tới chỗ buông thả.

- Điều thứ năm, giác ngộ rằng do vô minh che lấp trí sáng suốt nên con người phải bị giam hãm trong sinh tử.

- Điều thứ sáu, giác ngộ được sự nghèo khó khiến người ta dễ sinh ra oán hận và nuôi lòng căm thù, do đó càng ngày càng tạo thêm những nhân xấu.

- Điều thứ bảy, giác ngộ được rằng Ngũ dục (năm thứ dục vọng là: của cải, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và Ngũ nghỉ (tài, sắc, danh, thực, thuỵ) gây lên tội lỗi và tai hoạ.

- Điều thứ tám, giác ngộ rằng vì lửa sinh tử cháy bùng cho nên mọi loài đang phải chịu biết bao niềm thống khổ.

(Theo Kinh Tám điều giác ngộ của bậc Đại nhân – người có tâm hạnh Bồ tát – do Thích Nhất Hạnh dịch và chú giải, xuất bản Lá Bối, Paris, 1979).

Thập thiện

Mỗi người chúng ta, đều do từ nơi thân thể, miệng và ý phát ra mỗi hành vi, tư tưởng và cũng từ đó mà hình thành thế giới, vạn sự vạn vật trên thế gian này. Nếu người nào biết cải đổi 10 điều ác sẽ thành 10 điều lành như dưới đây:

- Thân có 3: là không sát sanh, không trộm cắp và không tà dâm.

- Miệng có 4: là không nói dối, không nói lưỡi đòn xóc nhọn hai đầu, không nói lời chải chuốt êm tai và không sử dụng lời nói độc địa để chửi mắng kẻ khác.

- Ý có 3 là: không tham lam, không sân hận và không si mê.

Nếu mỗi người trong chúng ta đều hoàn thành được 10 điều lành như thế sẽ có được một giá trị đạo đức cao và xứng đáng là người tốt trong cộng đồng xã hội.

Tâm từ bi

Đức Phật đã hiểu rõ xã hội con người đầy bất công, bất bình đẳng (qua 4 giai cấp Bà La Môn của Ấn độ lúc Phật sinh thời): giới có uy quyền cao – nô lệ, người giàu – người nghèo, người khôn – kẻ dại… cho nên Ngài không đến để dạy con người về quyền uy, phúc lộc, thế lực mà đến để giảng dạy về một đức cao cả của Phật giáo là tâm đại từ bi: phải luôn luôn thương xót kẻ yếu kém hơn mình.  Đó là pháp lành để cầu đạt được chân lý giải thoát mọi sự khổ ở đời.

Kinh Phật

Phật giáo với kho tàng kinh điển phong phú gồm Kinh, LuậtLuận gọi là Tam tạng, trong đó chỉ dẫn phương pháp tu tập rõ ràng rành mạch để giúp cho con người  vượt ra khỏi cảnh giới tối tăm đau khổ của thế gian và đạt đến quả vị giải thoát an vui.

Phật giáo vào Việt Nam

Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 2 (thời kỳ Bắc thuộc). Phật giáo phát triển mạnh mẽ từ từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 15.

TCờ Phật giáohời Đinh Tiên Hoàng (968-979), vua mến đạo Phật đã dùng người Tây tạng làm Khuông Việt Thái sư. Đến đời Lê Đại Hành (980-1009) vua lại sai sứ sang Tàu thỉnh kinh Tam Tạng.

Đến thời Lý Thái Tổ (1010-1028) thì Phật giáo cực thịnh bởi vì lúc còn nhỏ vua từng học đạo với Thiền sư Vạn Hạnh. Các danh Nho nước ta đời Lý như Từ Đạo Hạnh, Khổng Lộ, Mẫn Giác, Lư Ấn đều uyên thâm Phật học. Trong giai đoạn này Phật giáo được xem như quốc giáo (hợp cùng với Lão và Khổng giáo thành Tam giáo đồng nguyên, hay Tam giáo đồng tôn). Chùa chiền được lập nên khắp nơi.

Sau thế kỷ 15, Phật giáo bị một số danh công Nho giáo, như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát, bắt đầu bài bác, công kích – đại khái họ cho là Phật giáo có nhiều dị đoan và nghi lễ phiền phức ?!  Đến thời Vua Lê Thánh Tôn (1460-1497), vua ra chỉ cấm dân không được lập thêm chùa mới và triều đình từ đó bỏ bê không săn sóc phát hưng Phật giáo nữa. Đến lúc Khổng giáo mỗi ngày một thịnh thì Phật giáo mỗi ngày một suy. Âu cũng là sự tiến hóa tự nhiên của thời thế.

Chùa, Am

Chùa là nơi thờ Phật, là nơi tăng ni trụ trì, tụng kinh kệ. Am cũng là nơi thờ Phật nhưng kiến trúc giới hạn, nhỏ hơn Chùa. Am cũng là nơi để tăng ni nghỉ ngơi và học tập Phật pháp.

Thiền Viện

Thường đề chỉ tu viện Phật giáo. Tuy nhiên nhiều ngôi Chùa lớn có cả nơi thờ phụng và tu viện cũng gọi là Thiền Viện. Thí dụ Thiền Viện Trúc Lâm Đà lạt, Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử còn gọi là Chùa Lân (Uông Bí, Quảng Ninh)…

Tóm lại, ở nước ta, Phật giáo (và cả Lão giáo và Khổng giáo – Tam giáo) đã suy. Thời thịnh đã có nhiều chùa được xây, làng xã nào cũng có chùa thờ Phật.  Dân gian vẫn còn sùng bái thờ phụng; tuy nhiên dân lành chẳng qua theo thói quen mà cúng vái chứ kỳ thật còn ít người mộ đạo thực sự hiểu cái mục đích xâu xa của Phật. Thành thật chủ quan mà nói, Phật giáo có hệ thống “pháp” luật không được chặt chẽ – người nào, vì bất cứ lý do gì,  cũng có thể tự ý “xuất gia đầu Phật;” thành ra khó mà có cách kiểm soát thanh lọc sư sãi để chỉ có người thật tâm, có trí tuệ cao, muốn tu hành đứng đắn để tuyển chọn. Trừ một số ít chân tu, còn nhiều hạng thường dân lười biếng mượn cửa Bồ đề nương thân, nuôi miệng. Tệ hại hơn nữa là có nhiều kẻ hung bạo, vô thần gài toàn phe đảng bất lương của mình vào trú ẩn nơi cửa thiền để phá đạo, để cố tình gây tiếng xấu cho cả một đạo hạnh đã được gầy dựng bằng biết bao nhiêu công phu của tiền nhân…

Sen

Tóm lại, Đạo Phật có ba chủ ý: Một là nhìn nhận sự khổ não của kiếp người; hai là dùng tâm từ bi để cứu độ, và ba là tu để tìm giải thoát sự khổ não.  Đạo Phật lấy hư vô là tôn chỉ: Nếu chúng sinh bỏ hết lòng tham (dục vọng), rũ sạch bụi đời bám vào mình thì ngày sau mình được hưởng phúc hậu vô lượng. Mục đích ấy cũng cao sâu và lạ; Song vì Phật giáo có nhiều điều kỳ ảo: luân hồi, siêu thoát, họa phúc, nhân quả… cao siêu khó hiểu (dễ bị hiểu lầm là chuyện dị đoan! Làm cho lòng người mê hoặc – như đã từng bị Đạo Nho bài bác, không cho là chính đạo?!)  Nếu mình chỉ là người nông cạn, chưa đủ khả năng, kiến thức và thiện chí để hiểu mục đích cao sâu của đạo Phật, thì cũng chẳng nên bài bác mà thành người vô hạnh.

Trần Văn Giang  (Tháng 06.2011)

Những bài cùng chuyên đề ... The same special subjects
About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 1 138 other followers

%d bloggers like this: